Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Tư liệu: Chợ Quán, thánh đường cổ xưa nhất SG

Chợ Quán - thánh đường cổ xưa nhất Sài Gòn

PHẠM TRƯỜNG GIANG - Chủ Nhật, ngày 13/3/2016 - 07:20
(PL)- Từ những năm 1670, rất nhiều người di dân từ các miền đổ về khu vực Đồng Nai, một số lớn đã quy tụ về khu vực quận 5 của Sài Gòn lập ra một xóm gọi là xóm Bột bên cạnh tên hành chính là thôn Nhơn Giang.
Do ngày càng đông người đến, bà con đã dựng chợ với nhiều lều, quán sầm uất, chợ búa diễn ra suốt cả ba buổi trong ngày nên cái tên Chợ Quán ra đời thay thế cho những tên gọi trước đó. Nhà thờ Chợ Quán cũng song hành cùng lịch sử phát triển của vùng đất Sài Gòn - Gia Định hơn 300 năm qua và trở thành nhà thờ cổ nhất của Sài Gòn…
Nhiều tin đồn lưu truyền cho rằng nhà thờ được xây dựng từ năm 1672 nhưng không có tư liệu cụ thể nào cả, chỉ có thể xác nhận chính thức từ năm 1720 bởi lúc đó họ đạo Chợ Quán mời cha Quintaon từ Đồng Nai lên giúp và ngôi nhà thờ đầu tiên đã được dựng lên.
Tám bận xây nhà thờ
Trong vòng 100 năm sau đó nhà thờ liên tục phải xây lại từ đống tro tàn do bị phá hủy bởi chiến tranh (như bị quân Chân Lạp phá trong cuộc tấn công vào Sài Gòn năm 1731, cuộc giao tranh giữa quân Tây Sơn và nhà Nguyễn năm 1782) hoặc theo lệnh của vua nhà Nguyễn (lệnh cấm đạo của Võ Vương năm 1750, của vua Minh Mạng sau khi đàn áp Lê Văn Khôi nổi dậy thành Phiên An năm 1835 khiến mọi thứ lại trở thành bình địa mặc dù ngôi nhà thờ này trước đó đã được vua Gia Long gửi tặng gỗ và cho voi đến đầm mặt bằng).
Đến năm 1882, cha Hamm quyết định cho xây nhà thờ mới là ngôi nhà thờ tồn tại đến bây giờ. Để xây nhà thờ này, đất làm nền được xe bò chở đến từ Bàu Sen gần đó - nay ở đường Nguyễn Trãi (những thông tin trước đây về việc chở cát từ Bàu Trắng về xây nhà thờ là không chính xác vì Bàu Trắng cách Sài Gòn tới mấy trăm cây số). Nhà thờ xây mất đến 14 năm, qua sáu đời cha sở mới xong cơ bản và vẫn tiếp tục được bổ sung sau này. Trong số các cha sở tham gia xây dựng có cha Errar Y là người đã từng xây các nhà thờ Tha La, Tân Triều, Bến Gỗ, Bãi Xanh và Bà Rịa nên có khá nhiều kinh nghiệm, tiếc là sau đó cha bị bệnh nặng phải về Pháp, không thể tiếp tục công việc.
Để tưởng nhớ công ơn người đặt nền móng cho ngôi nhà thờ, thi hài của cha Hamm được mai táng trong nền thánh đường, ngay trước bàn thờ Đức Mẹ.
Nhà thờ Chợ Quán nhìn chính diện.
Bên trong nhà thờ.
Mộ cha Hamm trên hàng ghế đầu.
 
Một tượng nhỏ trong nhà thờ.
Cho voi kéo chuông lên tháp
Kiến trúc cửa chính và tháp chuông nhô ra nên thoạt nhìn bề ngoài có cảm giác nhà thờ Chợ Quán không quá to lớn nhưng bước vào trong người ta phải ngỡ ngàng với độ rộng của nó. Bề ngang đặt bốn dãy ghế dài và hai dãy ghế nhỏ đủ chỗ cho 1.500 giáo dân dự lễ. Nhà thờ được xem là quy mô nhất của khu vực Chợ Lớn, được xây theo phong cách Gothic phổ biến với các mái vòm nhọn, với nhiều mái vòm kết nối liên tục tạo cảm giác thánh đường rất dài.
Nội thất được thiết kế màu sắc đơn giản, thậm chí các cửa sổ không lắp tranh kính màu như nhiều nhà thờ khác mà chỉ lắp kính trắng bình thường (lý do những tranh kính màu cũ đã bị hư hỏng mà chưa tìm được người có khả năng phục chế nên cha sở đã thay tạm kính trắng chờ có dịp phục chế sau này). Tuy nhiên, khi chiêm ngưỡng các đường chỉ xám tinh tế trên nền trắng của mái vòm và tường, chúng tôi đều cảm nhận được vẻ đẹp trang nhã mà không kém phần trang trọng trong không gian nội thất nhà thờ Chợ Quán.
Khi khánh thành năm 1896, nhà thờ vẫn chưa có đầy đủ chuông như bây giờ mà tiếp tục bổ sung nhiều hạng mục khác dần sau đó. Những quả chuông được đặt đúc từ Pháp và vận chuyển về Việt Nam bằng tàu thủy. Do thời điểm đó điều kiện kỹ thuật còn khó khăn nên để kéo chuông lên tháp, người ta không dùng phương tiện máy móc hay sức người mà chọn cách sử dụng tới năm con voi buộc dây lần lượt kéo từng quả chuông lên.
Tháp chuông tại nhà thờ Chợ Quán có ba tầng, gồm tầng kéo chuông, tầng đặt chuông và tầng áp mái. Năm quả chuông chỉ được gióng cùng lúc khi có sự kiện đặc biệt quan trọng, còn ngày thường chỉ gióng hai chuông, hai chuông khác cho ngày lễ và chiếc chuông cuối cùng để báo tử. Đến nay chiếc chuông lớn nhất theo thời gian đã bị nứt nên dù trải qua nhiều lần tu sửa tháp chuông vẫn không có cách khắc phục sự cố này, sau này chỉ còn bốn quả chuông được sử dụng.
Do tháp chuông khá cao, đứng trên tháp có thể nhìn thấy bao quát khu vực quận 5 nên mỗi khi tiếng chuông gióng lên đều ngân vang rất xa và rõ trong không gian.
Rất nhiều người nổi tiếng đã chọn nhà thờ Chợ Quán làm nơi cử hành thánh lễ hôn phối vì khuôn viên đẹp rộng lớn, có cây xanh bóng mát tỏa ra.
Cuộc chỉnh trang gần nhất
Dự án kéo dài đường Phan Văn Trị, quận 5 sẽ cắt qua tòa nhà mục vụ cũ và phòng hài cốt. Dù không được nhận bồi thường nhưng nhà thờ vẫn chuẩn bị phương án giải tỏa mặt bằng và xây lại tòa nhà mục vụ mới để chuyển toàn bộ hơn 2.800 bộ hài cốt về cùng các lớp học tình thương và phòng phát thuốc miễn phí cho bệnh nhân nghèo. Hai năm chờ giấy phép xây dựng và mới đây cha Nhạc đã báo tin cho chúng tôi biết hồ sơ đã được phòng thẩm tra Sở Xây dựng duyệt và sẽ sớm được cấp phép, như vậy thêm một công trình có phong cách kiến trúc hài hòa với nhà thờ chính sẽ sớm được xây dựng và phục vụ cho những giáo dân Chợ Quán.
PHẠM TRƯỜNG GIANG

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Chiến tranh biên giới 1979 (đăng lại từ Vietnamnet 14/3/2016): Bài 1

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/293583/chien-tranh-bien-gioi-1979-nhan-chung-va-nam-mo-400-nguoi.html
-------------

Không được phép lãng quên:

Chiến tranh biên giới 1979: Nhân chứng và nấm mồ 400 người

Lính Trung Quốc thả bộc phá và khí ngạt vào hang khiến gần 400 người cả dân và quân thiệt mạng, chỉ vài người sống sót, trở thành nhân chứng cuối cùng cho câu chuyện bi tráng ở pháo đài Đồng Đăng.
LTS: Nhìn lại lịch sử bi hùng của dân tộc không ai được phép quên lãng. Ghi nhớ để sống tốt hơn, ghi nhớ để thêm yêu chuộng hòa bình và ghi nhớ để rút ra bài học trong ứng xử bang giao.
Từ ngày 17/2 đến 16/3/1979, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã điều động một lượng lớn quân đội và vũ khí hiện đại nhất tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta. Trong cuộc tấn công này, họ đã phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ, nhiều làng xóm, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, cầu đường, nhà cửa… của nhân dân ta tại những nơi lính Trung Quốc đi qua. Sau đó, TQ tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. 
Tuần Việt Nam khởi đăng loạt bài Chiến tranh biên giới 1979: nhân chứng và những nấm mồ nhằm cung cấp thêm tư liệu để mọi người cùng ghi nhớ, không được phép lãng quên.

Chiến tranh biên giới 1979: Không thể lãng quên
Mời độc giả xem clip hình ảnh pháo đài Đồng Đăng và nhân chứng kể chuyện:
 
Thị trấn Đồng Đăng, Lạng Sơn giờ đã là một trong những trung tâm thương mại sầm uất. Đây là cửa ngõ biên giới giữa Việt Nam – Trung Quốc. Nhìn người dân hai nước qua lại buôn bán tấp nập, ít ai còn nhớ chính nơi này đã diễn ra cuộc tập kích bất ngờ từ phía bên kia biên giới.  
Ngay tại vị trí hiện nay là chợ Đồng Đăng, dưới chân pháo đài Đồng Đăng là nấm mồ chung của gần 300 dân thường, một đại đội bộ đội biên phòng và nhiều dân quân, công an địa phương khác.
Cuộc giằng co mốc biên giới giữa một bên cố gắng bảo vệ chủ quyền, một bên cố gắng cưỡng chiếm đã nung nấu từ năm 1977. Những báo hiệu về chiến tranh từ Trung Quốc và tin tức nóng hôi hổi dội về từ biên giới Tây Nam hồi đó đã khiến cho người dân vùng biên ải phía Bắc càng thêm căng thẳng. Người dân Lạng Sơn khi đó đã chuẩn bị các căn hầm trú ẩn. Thóc ngô thu hoạch xong được chuyển lên hang đá cất giữ. Dầu vậy, cuộc tập kích xảy ra vẫn quá bất ngờ, về quy mô và độ tàn khốc.
chiến tranh, biên giới 1979, trung quốc, việt nam, hải đảo, Biển Đông
Bà Chu Ngọc Lan. Ảnh: Hoàng Hường
Theo lời kể của nhiều nhân chứng, cuộc tấn công tổng lực vào Lạng Sơn và các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam bắt đầu từ khoảng 4h sáng ngày 17/2/1979, khi người dân vẫn đang chìm sâu trong giấc ngủ. Tiếng pháo và ánh sáng chói xé rách màn đêm. Người dân miền biên viễn bị đánh thức bồng bế nhau người chui xuống hầm trú ẩn, người chạy lên hang tìm chỗ lánh nạn.
Ở tuổi 70, bà Chu Ngọc Lan, hiện sống tại phố Nam Quan, Đồng Đăng không thể quên ngày bà mất đi người chồng thương yêu cùng hàng trăm bà con họ hàng làng xóm tại Đồng Đăng. Đúng sáng hôm Trung Quốc tấn công, bà đưa hai con về nhà ngoại gần đó. Ba quả đạn pháo rơi trúng nhà, chồng bà chưa kịp xuống hầm trú ẩn đã tử nạn. Bà cùng hai đứa con và mấy người họ hàng chia nhau một căn hầm ở nơi khác. Pháo rơi như mưa, nhưng sau đó họ được dân quân giải cứu và đưa đến nơi an toàn.
chiến tranh, biên giới 1979, trung quốc, việt nam, hải đảo, Biển Đông
Bà Hà Thị Hiển. Ảnh: Hoàng Hường
Một người dân Đồng Đăng khác là chị Hà Thị Hiển, hiện là GĐ Doanh nghiệp tư nhân Hà Giang tại TP Lạng Sơn, phải chứng kiến mẹ chết ngay trước mắt. Lúc đó chị Hiển 14 tuổi. Khi quân Trung Quốc ập vào Lạng Sơn, chị cùng cả nhà xuống hầm trú ẩn được một ngày.  
Sau đó trước nguy cơ bị ngạt và bị phát hiện, cả gia đình quyết định chui lên và bỏ chạy tứ tán. “Chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện rùng rợn về cách Polpot đối xử với phụ nữ và trẻ em. Tôi tâm niệm thà chết còn hơn là bị rơi vào tay giặc”. Vừa lên khỏi hầm, bố chị Hiển bị lính Trung Quốc bắn bị thương ngất đi. Sau hai ngày nằm đó ông tự tỉnh lại và được dân quân tìm thấy.
Mẹ chị Hiển kém may mắn hơn. Hai mẹ con chạy cùng nhau và bà dính đạn mất tại chỗ. Chị Hiển tiếp tục chạy. Dọc đường, chị gặp một người phụ nữ bị thương cụt cả hai chân cầu cứu. “Suốt cả đời tôi không quên được hình ảnh mẹ tôi bị bắn, và ánh mắt người phụ nữ ấy. Cô ấy khẩn cầu tôi cứu giúp, nhưng lúc đó tôi chỉ là một đứa trẻ, và cũng đang chạy nạn, chẳng giúp được gì”, chị Hiển không bao giờ quên.
Còn trong tâm trí anh Hoàng Hữu Dư vẫn còn nguyên cảm giác hoảng sợ tột cùng khi tận mắt thấy “nguyên một dòng sông đầy xác người” ở quê anh, thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định, Lạng Sơn.
Anh Dư lúc đó 17 tuổi, đang tham gia dân quân thị trấn. Khi lính Trung Quốc ồ ạt kéo sang tấn công “trong vài tiếng buổi sáng đã thấy lính Trung Quốc tràn ngập thị trấn”, anh Dư cùng hỗ trợ bà con đi tìm nơi trú ẩn. Lính Trung Quốc tràn vào Tràng Định bắn giết và bắt 5 người dân làm tù binh, sau đó mấy năm những người dân này được trở về.
chiến tranh, biên giới 1979, trung quốc, việt nam, hải đảo, Biển Đông
Cửa vào pháo đài Đồng Đăng, nơi chôn vùi gần 400 người. Ảnh: Hoàng Hường
Khúc bi tráng trên pháo đài Đồng Đăng 
Sống giản dị trong một ngôi nhà nhỏ ở phố núi Bình Gia, Lạng Sơn. Anh hùng Lực lượng Vũ trang Hoàng Văn Liên giờ đã là một người đàn ông trung niên tóc bạc. Ông là một trong hai người sống sót tại pháo đài Đồng Đăng, nấm mồ chung của gần 400 người cả dân thường và bộ đội Việt Nam.  
Nhập ngũ năm 1978, ông Liên được điều động về đội cảnh sát cơ động tỉnh Lạng Sơn. Vào thời điểm này, tình hình biên giới nhiều biến động, ông Liên và đồng đội thường xuyên phải đi tuần biên giới. Sáng sớm 17/2/1979, sau phiên tuần như thường lệ, ông thấy pháo từ phía Trung Quốc bắn sáng rực bầu trời, người dân cuống quýt tìm nơi trú ẩn. Ông cùng đồng đội chống trả và bảo vệ người dân, nhưng sau đó đơn vị của ông hy sinh gần hết, ông cùng 3 người nữa rút lên pháo đài Đồng Đăng, nơi có một đại đội biên phòng Việt Nam đang chiến đấu, và gần 300 người dân đang trú ẩn trong hầm.
chiến tranh, biên giới 1979, trung quốc, việt nam, hải đảo, Biển Đông
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Hoàng Văn Liên, đã chiến đấu kiên cường tại pháo đài Đồng Đăng. Ảnh: Hoàng Hường
Nhóm của ông cùng lực lượng biên phòng chiến đấu quyết liệt. Sau ba ngày, bộ đội tại các lực lượng đã hy sinh gần hết. Những người còn lại rút vào cố thủ trong pháo đài và bắn qua lỗ châu mai. Pháo đài có 3 cửa, một cửa đã bị lấp từ trước, 2 cửa còn lại bị lính Trung Quốc chiếm giữ. Đến ngày thứ 4, lính Trung Quốc thả bộc phá và khí ngạt vào hang khiến toàn bộ gần 400 người cả dân và quân thiệt mạng. Ông và một đồng đội khác lợi dụng đêm tối đã lên khỏi hang rút đi, trở thành 2 nhân chứng cuối cùng cho câu chuyện bi tráng ở pháo đài Đồng Đăng.
Với chiến công diệt 34 tên giặc, bắn cháy một ô tô chở vũ khí của Trung Quốc, chiến đấu kiên cường bảo vệ người dân và chủ quyền lãnh thổ, ông Hoàng Văn Liên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.  
Pháo đài Đồng Đăng vẫn ở đó, trở thành chứng tích của một sự kiện lịch sử, là nấm mồ chung của gần 400 người Việt Nam.
(Còn tiếp)
Hoàng Hường

Hiệp định sơ bộ 6/3/1946: Cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ (đăng lại từ Nghiên cứu quốc tế 14.3.2016)

http://nghiencuuquocte.org/2016/03/14/hiep-dinh-631946-co-hoi-hoa-binh-bi-bo-lo/
----------------
Tác giả: Lê Đỗ Huy (trích dịch)
Theo các nhà Việt Nam học phương Tây, Hiệp định sơ bộ 6 – 3 chính là một khung pháp lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cược uy tín của mình để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh giữa hai dân tộc Pháp – Việt. Do các thế lực đế quốc không nhìn nhận thiện chí của Việt Nam trong các văn bản pháp lý đầu tiên giữa Pháp và VNDCCH, đã đưa đến trận bão nhấn chìm hệ thống thuộc địa kiểu cũ.
Trong sách Việt Nam: Lịch sử và chiến tranh (Vietnam – Warfare and History), NXB University Press of Kentucky phát hành năm 1999, Giáo sư Spencer Tucker viết về Hiệp định sơ bộ 6-3 như sau:

Đầu 1946, với khoảng 40 ngàn quân, Pháp mới chỉ kiểm soát được một it đất đai ngoài các thành phố, và các đường quốc lộ (ở Nam Bộ). Tới tháng 3/1946, Leclerc cũng chỉ mới có 50 ngàn quân. Khác với hầu hết những người Pháp, Leclerc nhận thức được khó khăn của cuộc chiến tranh trong rừng rậm, và nghiêng sang hướng đàm phán để có được một giải pháp chính trị, chứ không chủ trương giải quyết vấn đề bằng quân sự. Điều này có nghĩa là (Pháp) phải từ bỏ toan tính tách rời xứ Nam Kỳ. Tin chắc rằng Việt Minh là một trào lưu dân tộc chủ nghĩa mà Pháp không thể khuất phục bằng quân sự, Leclerc ép đại diện của Pháp ở miền Bắc, Jean Sainteny, ký bằng được một thỏa ước với Hồ Chí Minh, người đứng đầu chính phủ đang kiểm soát Hà Nội và Hải Phòng. Trong một báo cáo mật gửi về Paris hôm 27/3, Leclerc nói sẽ không một giải pháp nào bằng bạo lực là khả thi ở Đông Dương.
6/1/1946, chính quyền của Hồ Chí Minh tổ chức tuyển cử, chủ yếu trên các vùng phía bắc của đất nước. Dù các cuộc bầu cử diễn ra không dễ dàng, việc Hồ Chí Mình thắng cử là không thể nghi ngờ. Trong chính phủ hợp hiến, dù những người cộng sản chiếm đa số, nhưng cũng gồm cả những người chống cộng, vì Hồ Chí Minh vẫn còn hy vọng vào sự công nhận và hiệp trợ của Mỹ. Đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, đê điều ở miền Bắc ở trong tình trạng tồi tệ vì một thời không được gia cố và do các cuộc ném bom của Đồng minh, đa số dân cư vẫn chịu nạn đói. Vì sự hiệp trợ của Mỹ chưa tới ngay, và Hồ Chí Minh buộc phải thương thảo (để tránh đụng độ ngay) với Pháp…
Trong một điểm then chốt của Tạm ước 6/3, Pháp chấp thuận về một cuộc trưng cầu dân ý ở miền Nam để quyết định xem Nam Bộ có tham dự vào thành phần một nước Việt Nam DCCH thống nhất, nhưng ngày tháng tiến hành cuộc tuyển cử này đã chưa được nêu trong nội dung Tạm ước. Pháp đồng ý huấn luyện và trang bị cho quân đội trẻ tuổi của Việt Nam. Vào tháng Tư, Võ Nguyên Giáp và tướng Pháp Raoul Salan, đại điện cho cơ quan tham mưu đôi bên ký Hiệp định quy định nơi đóng quân và về số quân của lực lượng mỗi bên đóng tại đó. Sau khi Hiệp định được ký, Hồ Chí Minh nói với Sainteny: “Tôi không thấy hạnh phúc về nó (Tạm ước), về cơ bản là các ông được lợi. Ông biết rằng tôi muốn nhiều hơn thế. Nhưng tôi hiểu rằng người ta không thể đạt được mọi thứ trong một ngày”…
Hòa hoãn có nguyên tắc
Hai mươi năm sau, trên nền một cuộc chiến bế tắc và đứng trước một triển vọng đàm phán với VNDCCH về lối thoát khỏi “đường hầm”, các chiến lược gia Mỹ đã nhìn lại Hiệp định 6-3 trong một tài liệu đánh giá quan hệ giữa Hoa Kỳ và VNDCCH từ 1945 – 1977[1]. Sử dụng các tư liệu là các điện mật của phái bộ Mỹ gửi từ Hà Nội năm 1946, tài liệu này viết:
28 tháng 2/1946, người Pháp đạt được một Hiệp ước với Trung Quốc (với chính phủ Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh, không phải với những lãnh chúa Trung quốc đang đóng ở miền Bắc Việt Nam – ý nói Lư Hán) để (Quốc dân đảng) giao quyền chiếm đóng cho Pháp vào tháng 4. Hồ Chí Minh đương đầu với nước Pháp dùng sức mạnh quân sự, thực tiễn quân Trung Hoa đang rút ra, và chưa giành được sự cứu trợ của Liên Hiệp quốc hay Mỹ, đã không nhờ cậy được vào kế sách nào khác ngoài thương lượng với Pháp.
Một Tạm ước được ký vào 6/3/1946, giáng một đòn mạnh lên thanh danh của Hồ Chí Minh. Việt Nam Quốc dân đảng chống lại thỏa ước này, thậm chí chống lại đàm phán với Pháp, nhưng Hồ Chí Minh đã đủ thận trọng mang những người đại diện của phe chống đối tới các cuộc đàm phán với Sainteny, người phát ngôn của Pháp, và kết quả là Hiệp định 6/3 không chỉ được ký bởi Hồ Chí Minh và Sainteny, mà còn bởi cả Vũ Hồng Khanh, lãnh đạo VNQDĐ. Tuy nhiên, những ác cảm với Pháp vẫn dấy lên mạnh mẽ, khiến Hồ Chí Minh phải dùng hết uy tín của mình ngăn chặn những chống đối nhằm vào (chính quyền) Việt Minh…
Khi quân Pháp quay lại, bất chấp chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh và chữ ký của Vũ Hồng Khanh trên văn bản Hiệp định 6/3, một số lãnh đạo VNQDĐ đã tuyên bố không ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh để thể hiện sự chống đối lại cái mà họ gọi là “đường lối thân Pháp” của Việt Minh. Cựu hoàng Bảo Đại rời Việt Nam ngày 18/3, ngay trước khi Pháp vào Hà Nội. Hồ Chí Minh lập tức đã đưa Việt Minh hòa vào một Mặt trận rộng lớn hơn, chủ trương đoàn kết một số đảng phái của Việt Nam, nhờ đó mà giảm sức ép chính trị.
Ngày 27/5/1946, sự kiện thành lập Liên Hiệp quốc dân Việt Nam, hay Mặt trận Liên Việt, được công bố, nhằm tranh đấu “đem lại độc lập và dân chủ” cho Việt Nam. Các lãnh tụ nổi tiếng của các đảng phái chính trị đứng ra làm những người sáng lập, và họ cùng tuyên thệ “Giữ vững quyền tự chủ để đi đến hoàn toàn độc lập”[2]. Mặt trận Việt Minh, VNQDĐ, Đồng Minh Hội (Việt Cách), Xã hội Đảng và Dân chủ Đảng đều đứng trong Mặt trận Liên Việt, đồng thời vẫn giữ cơ cấu tổ chức riêng rẽ.
Thỏa thuận giữa các đảng phái trong khối Liên Việt, tuy thế, chỉ tồn tại khi quân Trung quốc (Tưởng) còn đóng ở miền Bắc Việt Nam (vì nhiều lãnh tụ Việt Cách và Việt Nam quốc dân Đảng rút chạy theo quân Tưởng – ND chú). Bất chấp định ước bởi Trùng Khánh là (quân Tưởng) sẽ rút vào tháng 4/1946, bọn quân phiệt (Trung quốc) lần lữa để cướp bóc (the warlords lingered at their looting) đến tận tháng 6/1946. Ngày 10/6/1946, các đơn vị Trung Hoa dân quốc rút khỏi Hà Nội, và 15/6, đơn vị cuối cùng (của họ) rút khỏi Hải Phòng. Ngày 19/6/1946, tờ Cứu quốc, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Liên Việt in một lời cáo buộc quyết liệt đối với “những kẻ phản động phá hoại Hiệp định tháng 3 (1946), chỉ đích danh Việt Nam quốc dân Đảng. Tái xác nhận chính sách hợp tác với Pháp, chính phủ Việt Nam mời người Pháp tham gia một chiến dịch “chống những kẻ thù của hòa bình”…
Một hòa ước ‘Brest- Litovsk’
Một “kinh điển” về thời đại Hồ Chí Minh ở phương Tây là cuốn Lịch sử Việt Nam từ 1940 – 1952 (Histoire du Vietnam, 1940 à 1952) của Philippe Devillers (NXB AMS Press, 1975). Devillers, một nhà Việt Nam học kỳ cựu người Pháp, đã trích các báo Việt Nam thời kỳ đó như (trích từ nhật báo Quyết chiến của thành phố Huế), để phản ảnh phản ứng trong xã hội công dân Việt Nam lúc đó về Hiệp định này.
Hiệp định 6/3 là một “hòa ước Brest- Litovsk”, Võ Nguyên Giáp giải thích trong một bài nói giàu xúc cảm trước cử tọa 100 ngàn người ở Hà Nội, hôm 7/3. Ông cho hay thỏa ước ngừng bắn này với Đức đã dừng được cuộc xâm lấn vào Nga, nhờ đó mà những người xô viết đã củng cố lực lượng quân đội và chính quyền chính trị của mình. “Chúng ta đã thương thảo cốt sao bảo vệ và củng cố được vị thế về chính trị, quân sự và kinh tế của mình”, lãnh tụ quân sự Việt Minh này chia sẻ. Hơn nữa, ông Giáp đánh giá, đàm phán là giải pháp được lựa chọn do Việt Minh chưa sẵn sàng (về lực lượng) cho một cuộc kháng chiến lâu dài. Ông nói: “Ở một số nơi phong trào cách mạng chưa bám rễ được sâu, còn những người chưa nhận thức được (vai trò của) nó thực sự nghiêm túc, và nếu chúng ta phải chiến đấu dài ngày, có thể xảy ra sự suy sụp (sức chiến đầu) trong một số khu vực hoặc tinh thần chiến đấu bị tổn thương. (Khi đó) nếu tiếp tục đấu tranh vũ trang, chúng ta sẽ tổn thất lực lượng của mình và từ đó, mất chỗ đứng chân, sẽ chỉ còn giữ được một số vùng…”
Nói về việc có một số ý kiến phê phán bản Hiệp định sơ bộ không chứa đựng từ “độc lập” vô cùng quan trọng, ông Giáp nhận định: “Họ không nhận thấy rằng độc lập của một quốc gia là kết quả của các điều kiện khách quan, và là trong cuộc đấu tranh để giành độc lập toàn vẹn, sẽ có những thời điểm chúng ta phải cứng rắn, và những thời điểm chúng ta phải mềm dẻo”.
Nhưng Hồ Chí Minh mới là người tạo nên ấn tượng mạnh nhất tại cuộc mít tinh trong việc giải thích Hiệp định Việt – Pháp này. Ông đã chỉ ra rằng dù Việt Nam giành được độc lập từ tháng 8/1945, nhưng chưa có nước nào xác lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hiệp định 6/3, Hồ Chí Minh luận giải, sẽ mở đường cho sự công nhận quốc tế, đồng thời hạn chế lực lượng của Pháp ở Việt Nam ở mức 15 ngàn quân, với thời hạn (đóng quân của Pháp) là 5 năm. Tuy nhiên, vì Hồ Chí Minh đã đặt uy tín cá nhân  vào bước đi này (hòa hoãn với Pháp), nên vị lãnh tụ của Việt Nam đã kết các luận chứng trên của mình bằng câu sau: ‘Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước’.
Nếu Hiệp định 6 – 3 đối với Việt Minh là một Hiệp định Brest – Litovsk, nó được Cao ủy Pháp, Đô đốc d’Argenlieu và những kẻ theo chủ trương của de Gaulle (chiếm lại Đông Dương) trong số những người Pháp ở Đông Dương xem là một thứ Hiệp ước Munich[3]. Dù một cách chính thức, viên đô đốc Pháp này chấp thuận và đề cao Hiệp định 6 – 3, trong nội bộ (người Pháp) ông ta tỏ một thái độ hoàn toàn khác. Ngày 8 – 3, gần 1 tuần sau khi ông ta trở về sau khi đi Pháp nhận chỉ thị, d’Argenlieu bảo tướng Valluy, người được Leclerc cử đến để thông tin với viên Đô đốc này về việc quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng (theo Hiệp định 8-3), “Tôi rất kinh ngạc, khi thấy nước Pháp có một đạo quân viễn chinh tuyệt vời tại Đông Dương, vậy mà các tư lệnh Pháp của đạo quân này lại muốn đàm phán hơn là chiến đấu”…
Gây cuộc chiến thế kỷ
Giáo sư Spencer Tucker viết tiếp trong sách Việt Nam: Lịch sử chiến tranh, về tiến trình “hậu Hiệp định 6-3”:
Thỏa thuận Hồ Chí Minh – Sainteny, dù có ít ý nghĩa hơn những gì mà Việt Minh mong muốn, chính là một hiệp định khung (framework) mà từ đó có thể mở đường đi tới một quan hệ sống động và tích cực giữa Pháp và VNDCCH, nếu nó được tạo điều kiện để trụ lại… Để thương thảo nhằm thực hiện tạm ước 6/3, Hồ Chí Minh dẫn một đoàn đại biểu sang Pháp. Nhưng khi đoàn tới nơi, chính phủ Pháp vừa đổ, và phải mất hàng tuần cho một chính phủ mới ra đời. Cùng kỳ, hôm 1/6, sau khi Hồ Chí Minh lên đường sang Paris, cao ủy Pháp d’Argenlieu đã phá tan những gì Sainteny vừa đạt được. Ông ta ra tuyên bố tại Sài Gòn về một “Cộng hòa Nam Kỳ”… Với một thứ “cộng hòa độc lập như vậy”, đã không còn cần đến một cuộc bỏ phiếu trưng cầu ý dân ở Nam Bộ. Hồ Chí Minh tức giận nói với Salan, người tháp tùng ông sang Pháp, “Các người vừa ngụy tạo ra một ‘Alsace – Lorraine’ nữa[4] và chúng ta đã bị đẩy vào ‘Cuộc chiến tranh trăm năm” (The Hundred Years’ War)[5].
Đoàn đại biểu VNDCCH bị giáng một đòn nữa khi các đảng viên xã hội Pháp bị mất ghế trong cuộc bầu cử tháng 6; còn những người cộng sản trong chính phủ lại tỏ lòng ái quốc (ý nói muốn duy trì Khối liên hiệp Pháp với Đông Dương là thuộc địa). Kết quả là tại Hội nghị Fontainebleau từ tháng 7 đến tháng 9, Paris đã không đưa ra nhượng bộ nào đối với những người Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc. Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn đàm phán, về sau là thủ tướng Việt Nam, nhớ lại rằng Max André, Trưởng đoàn Pháp, từng bảo ông, “Chúng tôi chỉ cần một chiến dịch tảo thanh thông thường trong dăm bẩy ngày đủ quét sạch hết các vị”. Toàn bộ công tác của hội nghị gói lại vẻn vẹn một sơ thảo hiệp định nhằm hướng tăng cường quyền lợi kinh tế của Pháp ở phần phía Bắc của đất nước, mà không đả động đến giải pháp cho Nam Kỳ. Hồ Chí Minh lệnh cho phái đoàn Việt Nam về nước.
Dù còn những ý kiến khác về điểm này, Hồ Chí Minh hẳn đã là người theo chủ nghĩa dân tộc trước khi trở thành người cộng sản. Nhà văn David Halberstam mô tả Hồ Chí Minh là “có một chút Gandhi, một chút Lenin, nhưng trăm phần trăm Việt Nam”. Một khi Việt Nam đã có lịch sử lâu đời kháng cự (sự bành trướng của) Trung quốc, Hồ Chí Minh lúc đó đã có thể trở thành một Tito của châu Á. Tuy nhiên tháng 9/1946 ấy, Hồ Chí Minh rời Paris tay không, và ngập trong dự cảm về sự bùng nổ sớm của cuộc chiến[6]…
————–
[1]https://assets.documentcloud.org/documents/205503/pentagon-papers-part-i.pdf
[2] Trích từ Cương lĩnh Liên Hiệp quốc dân Việt Nam.
[3] Hiệp ước mà Anh và Pháp thỏa hiệp với nước Đức phát xít, để mặc cho Hitler đưa quân sáp nhập Tiệp Khắc vào Đức.
[4] Alsace – Lorraine, vùng đất Pháp, nhưng từng bị giành giật với Đức từ thời Chiến tranh Pháp – Phổ 1870 – 1871, và trong cả hai cuộc Chiến tranh thế giới.
[5] Những cuộc xung đột vũ trang giữa Anh và Pháp kéo dài hơn thế kỷ, từ 1337 tới 1453.
[6]https://books.google.com/books?isbn=0813128587 Sách Việt Nam: Lịch sử chiến tranh (tr. 45 – 46)

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Tư liệu: Con đường đối thoại của TGM Nguyễn Kim Điền

28- Con đường đối thoại của TGM Nguyễn Kim Điền
Đỗ Mạnh Tri, 29-04-2005

(trích: 1975-2005 Con đường đối thoại của các Giám mục Việt Nam)

http://ttntt.free.fr/archive/MonseigeurNKDIEN4.html

 

TÓM LƯỢC


    Từ khi đảng CSVN thống lãnh đất nước, có không một đường hướng của hàng Giáo phẩm Công giáo đối với Chinh quyền toàn trị ? Trả lời “không” hay “có” đều dễ bị phản bác. Điều nhiều người có thể đồng ý đó là các giám mục miền Nam, rồi cả các giám mục miền Bắc chủ trương nhìn nhận thực tế chính trị, sẵn sàng hợp tác và đối thoại với chính quyền nhằm phục vụ công ích.
    Nhưng trước thái độ cởi mở của Giáo phẩm Công giáo, Chính quyền từ khước đối thoại, dùng Công an, Mặt trân Tổ quốc và nhóm Công giáo yêu nước để áp đặt chính sách đàn áp tôn giáo rất khắc nghiệt đã thực hiện tại miền Bắc.
    Trước sự kiện này, có những vị giám mục kiên vững đối thoại một cách nghiêm túc, có những vị giữ yên lặng (một sự yên lặng không nhất thiết thụ động), có những vị mềm dẻo tới mức khó phân biệt giữa khoan nhượng và nhượng bộ. Vì không thể và cũng không có khả năng đi vào chi tiết, trong bài này chúng tôi chủ yếu đề cập đến những vị đứng đầu 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế, Sài Gòn và HĐGMVN. 
    Nói chung, tuy có những khác biệt cá nhân, nhưng trong chiều sâu có một sự đồng thuận nào đó -một cách đối phó ôn hoà nhưng bền bỉ- phản ánh nếp sống đức tin có khi mộc mạc nhưng sâu sắc, âm thầm nhưng thiết thực của cộng đoàn công giáo.
    Sự đồng thuận ấy biểu lộ mãnh liệt qua vụ Phong Thánh 117 Chân Phúc Tử đạo Việt Nam, năm 1988, điểm cao của sự căng thẳng (để khỏi nói là mâu thuẫn) giữa Chính quyền và Giáo hội Công giáo.
    Sau vụ này, Chính quyền đổi thái độ vì nhận ra rằng cơ cấu tổ chức chặt chẽ của Giáo hội Công giáo không chỉ là một cơ cấu xã hội. Nó còn là và trước hết là dạng thái xã hội của một niềm tin. Cơ cấu xã hội có thể lũng đoạn, phá huỷ. Lòng tin không dễ gì lay chuyển. Chính quyền đã nhận ra điều đó và chấp nhận liên hệ trực tiếp với các giám mục.
    Từ năm 1989 tới nay, song song với những cuộc đàm phán giữa Vatican và Hà Nội, có cuộc đối thoại khó khăn giữa Nhà nước độc tài và hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam. Cuộc đối thoại ấy diễn ra khá thất thường, ‘en dents de scie’, lúc lên lúc xuống. Dĩ nhiên, chính quyền giữ vai trò chủ động, lúc đóng lúc mở, tuỳ hứng, tuỳ nơi, tuỳ đối tượng.
    Chủ thể đối thoại, về phía Giáo phẩm Công giáo, là HĐGMVN. Nhưng cũng là cá nhân từng giám mục, nhất khi một giám mục có một vị trí cao trong hàng giáo phẩm thì tiếng nói của một cá nhân có trọng lượng lớn không kém tập thể HĐGM.
    Khi HĐGMVN lên tiếng, trong các Thư chung chẳng hạn, thì tương đối có sự thống nhất, nhưng sự hiệp nhất này không che giấu nổi những khuynh hướng khác nhau, thậm chí khác biệt giữa các giám mục. Âu cũng là nét tự do cố hữu của người công giáo (rất tuân phục Hội Thánh nhưng rất tự do con cái Chúa) ? Cũng có thể là do chính quyền khéo thao túng bằng những biện pháp tinh vi, xảo trá. Kết quả, ba mươi năm sau, mặc dầu những giằng co và căng thẳng tồn đọng, tiếng nói của hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam có trọng lượng hơn và được chính quyền nể vì hơn..

***
    Sau hiệp định Genève, một triệu người miền Bắc tản cư vào Nam. Phần lớn là công giáo. Trong số người công giáo, tỷ lệ giám mục, linh mục, tu sĩ lớn hơn giáo dân nhiều[1]. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mấy triệu người bỏ nước ra đi. Trong số này, công giáo chiếm một tỷ lệ nhỏ (15% ?). Đặc biệt không có một giám mục nào ra đi, kể cả Đc Phạm Ngọc Chi, nguyên là Giám mục coi sóc Giáo phận Bùi Chu. Hơn nữa, HĐGM/VN miền Nam chủ trương rõ ràng không tị nạn. Đây là sự kiện then chốt, tượng trưng cho một thái độ : đảm nhận thực tại ; và biểu hiện một tinh thần : tinh thần đối thoại. Ba mươi năm qua, thái độ ấy, tinh thần ấy đã biến chuyển ra sao, đã gặp những trở ngại nào và thu lượm được những thành quả gì cho Giáo hội, cho Đất nước ?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đề nghị phân tách một số sự kiện và văn bản mà những người quan sát đều có thể biết đến. Xin bỏ ngoài những lời đồn thổi về những hành động, những liên hệ bí mật ; vì tính cách thất thiệt của chúng và vì, theo thiển ý, dù có thiệt đi nữa, cũng không mang tính quyết định.

    1. NHỮNG PHẢN ỨNG BAN ĐẦU


    Sau khi Miền Nam tan rã như chim vỡ tổ, không có ngay một phản ứng chung của HĐGM miền Nam. Tình thế lộn xộn, nhớn nhác lúc đó không cho phép. Tuy nhiên phản ứng mau lẹ của hai vị đứng đầu hai Giáo tỉnh miền Nam, Tổng Giám mục Huế, Đc Nguyễn Kim Điền và Tgm Sài gòn, Đc Nguyễn Văn Bình đủ đại diện cho toàn thể hàng Giáo phẩm công giáo miền Nam.

    1.1. Đc Nguyễn Kim Điền, Tgm Huế.

    Ngày 30 tháng tư quân đội miền Bắc mới vào Dinh Độc lập, nhưng sáng ngày 26 tháng 3, cờ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam đã treo trên Thành phố Huế rồi. Ai cũng biết, thực chất là quân đội miền Bắc, nhưng Hà Nội vẫn còn dùng con bài Mặt trận Giải phóng để tránh tiếng xâm lược miền Nam. Đức cha Điền lúc đó đang ở Sài gòn, hối hả ngược dòng người tị nạn chạy về Huế.

    Lời phát biểu ngày 09-04-1975

    Trong lễ ra mắt của Uỷ ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng thành phố Huế ngày mồng 9 tháng 4, Đc Điền đã nói lên cảm tưởng của mình. Xin lấy lại toàn văn (chúng tôi ấn mạnh một số từ) :
    “Ở đời này, không có gì quý hơn mạng sống con người, không có gì quý hơn độc lập tự do. Bao nhiêu mạng sống con người được bảo tồn, nếu chiến tranh chấm dứt sớm đi một ngày. Chiến tranh đã chấm dứt trên một phần lớn của quê hương chúng ta. Độc lập hôm nay là một sự thực cho cố đô Huế.
    “Còn tự do thì Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã long trọng bảo đảm cho toàn thể đồng bào, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng cho đồng bào các tôn giáo.
    “Mạng sống của con người, độc lập của đất nước, tự do của nhân quyền được bảo đảm, như vậy niềm vui mừng của chúng tôi, của những người công dân công giáo Việt Nam yêu nước, được trọn hảo.
    “Như vậy, đồng bào công giáo nguyện tích cực góp phần với tất cả đồng bào ruột thịt để cùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng xây dựng một xã hội đầy tình thương, tự do, dân chủ, thịnh vượng, hoà bình, trong đó chúng tôi được chu toàn bổn phận đối với Tổ quốc và đối với Thiên Chúa ”.
    Lời phát biểu ngắn, rất ngắn. Nhưng nghiêm túc và đầy đủ. Chiến tranh chấm dứt. Tổng giám mục Huế không nói chuyện thắng bại, chỉ mừng cho những mạng sống con người được bảo tồn. Vần đề còn lại là tự do, dân chủ, nhân quyền ; chính quyền mới bảo đảm. Thể theo sự bảo đảm ấy, người công giáo vui mừng, nguyện tích cực hợp tác để chu toàn bổn phận đối với Thiên chúa và Tổ quốc : xây dựng một xã hội tình thương, tự do, dân chủ.

    Thư ngày 01-04-75


    Trước đó, ngày 01 tháng 04, Đc Điền đã lên tiếng trong một bức thư gửi linh mục, tu sĩ và giáo dân của Tổng Giáo phận.
    Lá thư nhìn nhận “Chiến tranh đã chấm dứt trên giáo phận Huế. Đó là điều chúng ta mong ước và cầu nguyện từ 30 năm nay”. Đã qua rồi, thời gian của hãi hùng, lo âu, thù hận, chém giết. Mời gọi linh mục, tu sĩ, giáo dân “hoan hỷ sẵn sàng và hăng say cộng tác với mọi người thiện chí, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Cách mạng để xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ tang tóc, hầu đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào ruột thịt”. Kêu gọi hãy khoan dung, tha thứ mọi lỗi lầm, đừng nghi ngờ, thù hận ai và gây sợ hãi cho ai. Nhưng trái lại, phải hiểu tốt, thông cảm và nhìn nhận thiện chí của người khác”, “đoàn kết, yêu thương và phục vụ người khác, giúp đỡ và chia sẻ cơm áo với đồng bào, không phải chỉ chia sớt những gì mình dư thừa, mà còn trao nhường những gì mình chỉ có vừa đủ”. Nói một cách khác, “phaỉ cùng nhau xây dựng thế giới huynh đệ đại đồng”. “Nhưng không phải dừng lại đó, mà để nhờ đó chúng ta đạt tới đời sống huynh đệ trường cửu”. Cụ thể : “Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy sống Phúc Âm của Chúa Giêsu cho đến tận cùng”. Cho đến tận cùng, nghĩa là nếu cần, phải sẵn sàng “thí mạng sống mình”. 
    Tóm lại, vui mừng vì chiến tranh chấm dứt ; đón nhận, phục tùng chính quyền mới ; hoan hỉ phục vụ và cộng tác với mọi người thiện chí để xây dựng lại đất nước ; nhưng đồng thời tuyệt đối trung thành với Phúc Âm của Chúa Giêsu. Đức cha Điền không nói gì đến Đảng Cộng sản Việt Nam, vì chính quyền mới, trên danh nghĩa vẫn là Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tuy nhiên, “thế giới huynh đệ đại đồng” ám chỉ một thứ ước mơ, một hứa hẹn trần thế nào đó… một điểm gặp gỡ có thể có giữa những con người thiện chí.

    2. SỰ CHUYỂN HƯỚNG CỦA HÀNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

    3. CHÍNH QUYỀN TỪ KHƯỚC ĐỐI THOẠI

    4. CÁC GIÁM MỤC CHỌN CON ĐƯỜNG ĐỐI THOẠI

    4.4. Đối thoại kiểu Đc Nguyễn Kim Điền


    Trong thư gửi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, đề ngày 25-3-1988, Đc Điền viết : “Năm 1967, khi tham dự cuộc họp quốc tề Caritas Internationalis tại Rôma, một nhà báo người Ý hỏi tôi: “Ông nghĩ thế nào về Đảng cộng sản Việt Nam?” Tôi trả lời “Là giám mục công giáo, tôi không thể theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng người cộng sản Việt Nam là anh em của tôi”. Hôm sau, báo đăng lời đó với hàng tít to. Năm 1980, cụ Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ tại Hà Nội nói với tôi: “Ông Tổng giám mục tuyên bố câu đó hồi năm 1967 thì chỉ có hại cho ông thôi, vì lúc đó CIA thống trị tại phía Nam và chính phủ nào ở đó cũng là chính phủ chống cộng”. Tôi không biết anh nhà báo phỏng vấn tôi năm đó hiện nay còn sống hay chết và ở đâu? Anh sẽ nghĩ thế nào nếu anh biết được hoàn cảnh hiện tại của tôi? Còn lập trường của tôi từ năm 1967 đến nay vẫn trước sau như một”.
    Hoàn cảnh hiện tại của Đc Điền lúc đó là từ năm 1984, sau 120 ngày bị thẩm vấn, mặc dầu là Tgm giáo tỉnh miền Trung, ngài không được phép đi thăm viếng các giám mục thuộc giáo tỉnh, không được phép đi họp hội nghị thường niên của HĐGM/VN, không được phép ra khỏi chu vi Tp Huế để thăm các giáo xứ và làm các công tác căn bản của một giám mục. Sự thể ra thế chính vì lập trường của ngài không thay đổi. Chiến tranh đã chấm dứt ! Đc Điền đón nhận hoà bình như một hồng ân. Ngài là vị giám mục Việt Nam đầu tiên kêu gọi mọi người hợp tác với chính quyền mới, một chính quyền có đấy, như bất luận chính quyền nào.  Chính phủ cách mạng lâm thời tuyên bố tự do tôn giáo, Tổng giám mục Huế đề nghị hoà giải dân tộc để xây dựng lại đất nước, và trước mắt, hàn gắn những thương đau mà Huế là tang chứng bi thảm nhất. Tâm thư ngày 1-4-75 gửi linh mục, tu sĩ và giáo dân Tổng giáo phận Huế cũng như lời phát biểu ngày 9-4-75 trong lễ ra mắt của Uỷ ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng thành phố Huế cho chúng ta hình ảnh một vị chủ chăn cởi mở, khiêm nhu, nhưng táo bạo, hết lòng phục vụ, dấn thân vì công ích, vì Đạo Chúa, nhưng cũng chính vì thế, luôn luôn bênh vực lẽ phải và tuyệt đối trung thành với sứ vụ của một giám mục công giáo.
    Chính quyền mới đã sớm lột mặt nạ như mọi người đều biết. Và hai năm sau, Tgm Nguyễn Kim Điền đã lợi dụng hai cuộc họp do chính quyền triệu tập để phát lên tiếng nói của lương tâm, tiếng nói tự do. Trong khi mọi người nơm nớp nhất trí, nói theo, dù một chút thắc mắc cũng không dám thổ lộ, Đc Điền đã ung dung, nhẹ nhàng nói thật. Tiếng nói của ngài hoàn toàn bất ngờ, khác nào ngọn lửa bừng lên giữa đêm đen hay nhát búa giáng xuống tảng băng cứng lạnh. Tiếng nói ấy đánh thức lương tri, chấn động lòng người, truyền đi rất nhanh trong dân chúng, vượt bức màn tre của chế độ và thành tít lớn trên báo chí ngoại quốc. Không thể phân tách ở đây cuộc đối thoại nguy hiểm của Tgm Huế với chính quyền độc thoại[2]. Chúng tôi xin chỉ đề cập đến hai bài phát biểu mở đầu cho mười năm gian khổ của một công dân giám mục, vốn kín đáo, gần gũi với những con người lao động, những tầng lớp thấp kém trong xã hội hơn là những kẻ có quyền lực[3], nay bị lịch sử đẩy ra sân khấu của thời cuộc.
    Phát biểu ý kiến ngày 15.4.77 [4].
    Một buổi họp do Mặt trận Tổ quốc Bình Trị Thiên và Tp Huế tổ chức, nói là để thông báo, kỳ thực là để học tập cải tạo nhân vụ chính quyền bắt giữ 6 nhà sư của Phật giáo Việt Nam Thống nhất hệ phái Ấn Quang tại Tp Hồ Chí Minh. Được mời phát biểu, Đc Điền không đi vào nội dung[5] của sự kiện mà người của UBND Tp HCM vừa trình bày : “Cá nhân tôi, tôi không có ý kiến gì cả. Vấn đề quảng bá tin tức, cắt nghĩa lý do là nhiệm vụ của chính phủ. Tôi chỉ muốn san sẻ với các vị lãnh đạo Phật giáo những kinh nghiệm mà trước đây chúng tôi đã phải chịu trong vụ Vinh Sơn”. Rồi Đc Điền lấy giả thuyế tồi tệ nhất cho phía các tôn giáo : “Chúng tôi chắc chắn là không có ai trong buổi họp có thể chấp nhận hành động được diễn tả trong bản thông cáo của chính phủ”. Nói một cách khác, cứ cho là sự việc đã xảy ra đúng như chính quyền thông cáo (mà có ai đủ ngây thơ để tin chính quyền đây ?), cứ cho là có những kẻ dựa vào tôn giáo để xách động này nọ đi, “Sự kiện mà chính phủ vừa giải thích và trình bày cho chúng ta nghe, chỉ là một sự kiện đơn độc”. Một sự kiện đơn độc ! Như muôn vàn sự kiện tốt xấu xảy ra hàng ngày trong xã hội, có thể chạy tít lớn trên trang 1 của báo chí nhưng chẳng có gì đáng cho chính quyền các cấp phải làm rùm beng ! Và đây, tiếng sấm nổ vào lỗ tai chính quyền : “Nhiều chuyện như vậy đã xảy ra và còn sẽ xảy ra trong tương lai, nếu chúng ta không giải quyết nguyên nhân căn bản của nó. Theo thiển kiến của chúng tôi, nếu thực ra có những cộng đồng tôn giáo gây rối loạn chăng nữa, chỉ vì không có tự do tín ngưỡng. Thẳng thắn mà nói, tôi không thoả mãn với chính phủ về chánh sách tự do tín ngưỡng” Rồi ngài kể ra một loạt những hạn chế, truy bức, vu khống, mạ lỵ… Riêng người công giáo “có cảm tưởng mình là công dân hạng hai”, “trong giới công nhân, công viên chức, bịnh viện hay giáo viên, thường người công giáo được cho là tiên tiến ; nhưng chắc rồi cũng không tiếp tục làm việc được, vì là công giáo. Đi xin việc làm hoặc bị từ chối, hoặc gặp khó khăn trong việc làm, muốn biết căn do thì được rỉ tai cho biết là bỏ đạo hay đừng đi nhà thờ nữa là êm xuôi”.
    Ngày 22.4.1977. Cuộc họp Góp ý kiến vào bản dự thảo “Đề cương báo cáo của Đảng bộ tỉnh Bình Trị Thiên”. Đc Điền lấy làm vinh dự được mời tham gia đóng góp ý kiến, cám ơn Ban tổ chức và coi đây là một việc làm có tính cách cởi mở, mới mẻ “vì Đảng và Tôn giáo không đi chung với nhau”. (Cử toạ đột xuất vỗ tay !) Với tư cách là người lãnh đạo tôn giáo, Đức cha góp ý về Chính sách tôn giáo của Đảng.
    Về cách tiếp cận vấn đề tôn giáo trong bản Đề cương, đức cha thấy tôn giáo chỉ được nhắc tới 2 lần. Một lần, trong mục “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân” có nói đến “đoàn kết các tầng lớp nhân dân” trong đó có đồng bào các tôn giáo. Một lần nữa khi nói về “củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh, chính trị và trật tự xã hội” sau khi đã kể ra bao nhiêu tội phạm và các âm mưu phá hoại…”. Có người nhậy cảm thấy nói về chính sách tôn giáo trong mục này thì lo ngại, vậy “để tránh những lo âu và cảm tình không mấy tốt của đồng bào có tôn giáo đối với Đảng”, Đức cha “đề nghị đem chỗ nói về chính sách tôn giáo lên mục B, nơi nói về “phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”. Tuy nhẹ nhàng, nhưng nhận xét trên vạch trần ý đồ của Đảng : khi Đảng nói chính sách tôn giáo, phải hiểu chính sách đàn áp tôn giáo. Nếu không, tại sao đặt tôn giáo vào mục an ninh chính trị, xã hội và xếp hoạt động tôn giáo bên cạnh những âm mưu phá hoại và mọi thứ tội phạm ? Thay vì vòng vo tam quốc, Đc Điền đặt thẳng vấn đề thiếu tự do tôn giáo với chính quyền.
Nhưng để tránh những góp ý trừu tượng, vì “ông Tống Hoàng Nguyên, khi khởi đầu buổi họp sáng nay có dặn nên góp ý vào việc lao động sản xuất và kinh tế cách trực tiếp hơn”. Diễn nôm : mọi chính sách đã có Đảng lo, góp ý này nọ là để nhất trí và học tập chính sách, thực hiện chính sách. Đc Điền hẳn cũng hiểu thế, nhưng ngài cứ coi như ông chủ toạ cuộc Hội thảo nói thật và ngài thật thà góp ý vào việc lao động sản xuất. Một cách thực sự cụ thể : “Theo tôi nghĩ, nếu có tự do tín ngưỡng thì năng xuất của đồng bào công giáo sẽ lên cao lắm”. Đức cha đơn cử một việc mới xảy ra trước đó mười ngày. Ngày Chúa nhật 10-4-1977 là ngày lễ Phục sinh của Công giáo, một ngày lễ lớn, được chuẩn bị bằng cả một tuần trước. “Xã Hải Trí phải làm thuỷ lợi trong thị xã Quảng Tri. Huyện cho làm trong 10 ngày nhưng xã rút xuống còn năm ngày để thi đua. Mỗi thôn được chia phần của mình và sẽ phát động lao tác vào sáng Chúa nhật. Ngày thứ bảy, thôn Trí Bửu (hầu hết là công giáo) đã đệ đơn xin xét lai cho đồng bào công giáo có giờ đi cử hành nghi lễ đạo, rồi sau đó sẽ đi làm, nếu không kịp thì xin làm đêm nữa. Nhưng xã không cho (…). Có người nói với xã xin xét lại, vì nếu đồng bào họ không tuân lệnh, thì tổn thương phần nào uy tín của chính quyền địa phương. Như hôm lễ Giáng Sinh 76, thôn Trí Bửu cũng đã không đi làm vì họ phải đi lễ. Nhưng xã cương quyết không xét lại… Thì rồi, thôn Trí Bửu lấy quyền nhân dân làm chủ nên không đi làm thuỷ lợi hôm đó, mà đi lễ hết. Ngày hôm sau họ huy động cả thôn ra lảm thuỷ lợi thì thay vì năm ngày, họ làm trong hai ngày rưỡi là xong. Nghe nói xã định tuyên dương họ, nhung họ không nhận vì họ không tuân lệnh đi làm trong ngày lễ Chúa Phục Sinh hôm đó”.
    Những trường hợp cụ thể như trên cho phép khẳng định một cách khái quát : “Chỉ có tự do tín ngưỡng thực sự thì những người có tín ngưỡng mới sống thoải mái, hạnh phúc trong chế độ xã hội chủ nghĩa mà thôi” ! Thực sự thì Đảng va Nhà nước chủ trương tự do tín ngưỡng bằng văn bản, sắc lệnh. Đã có tới 5 sắc lệnh và thông tư. “Nhưng trong thực tế vẫn có những khẩu lệnh đi ngược lại với chính sách”.
    Vậy phải có tự do tôn giáo thực sự. Phải từ bỏ ý đồ tiêu diệt tôn giáo. Người cộng sản cũng biết tôn giáo “là một nhu cầu xã hội và tâm lý, bao lâu nhân dân còn cần đến, thì cứ để“. Đc Điền đồng ý : “chừng nào đồng bào không thèm đến tôn giáo nữa thì thôi, tự nhiên sẽ hết tôn giáo” Nhưng cấm thí chắc chắn không thể cấm được, vì 1) thực tế lịch sử đông tây kim cổ, nhất là gần đây bên các nước thuộc khối Liên xô đủ chứng minh điều đó. và 2) “vì tôn giáo nằm ở địa hạt khác, địa hạt tinh thần và tâm linh nên khoa học và kỹ thuất không đánh trúng được”. Đã không diệt được thì chỉ còn cách tôn trọng tư do tín ngưỡng để đồng bào cùng nhau xây dựng đất nước về mặt vật chất, còn tín ngưỡng thì ai chọn tôn giáo nào tuỳ sở thích. “Như vậy mới thoải mái, mới đoàn kết được”.
    Qua hai bài phát biểu trong vòng 10 ngày, Tgm Huế thẳng thắn trực diện với chính quyền toàn trị. Thiết tưởng, để tránh ngộ nhận, nên nói cho rõ : Đc Điền không khi nào chống lại chính quyền. Ngài chỉ bênh vực tự do tín ngưỡng thực sự thôi. Và khi đòi tự do tín ngưỡng, Đc Điền đương nhiên đòi tự do và bảo vệ những quyền con người, trong đó tự do tín ngưỡng là một quyền căn bản. Khi nói với chính quyền như thế, Đc Điền cũng nói thay cho mọi người và nói với mọi người, đặc biệt với những người đồng đạo và trong số này, hàng Giáo phẩm Công giáo. Đối thoại với chính quyền một cách thẳng thắn và nghiêm túc như thế cũng là đề nghị với các giám mục Việt Nam khác một đường lối thích ứng trong hoàn cảnh mới. Nhưng đường lối này không được sự đồng tình của tất cả mọi giám mục. Ta sẽ nhắc tới đường lối của Tgm Sài Gòn. Nhưng trước đó, xin nói về phản ứng của chính quyền sau hai bài phát biểu của Tgm Huế.
    Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Tp Hồ Chí Minh can thiệp.
    Chính quyền đã đánh giá đúng mức những lời phát biểu của Tgm Huế. Bằng chứng là ông Nguyễn Văn Chì, Chủ tịch UB MTTQ Tp HCM, gửi cho Đc Bình một bản "NHẬN ĐỊNH VỀ HAI BẢN VĂN ghi lại lời phat biểu của Tgm Nguyễn Kim Điền". Mở đầu như sau :
    "Gần đây Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp HCM được biết có luân lưu, phổ biến trong một số linh mục, tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa giáo ở Tp HCM hai bản văn dưới có ghi lời phát biểu của ông Tgm Nguyễn Kim Điền, địa phận Huế. Hai bản văn này không những chỉ luân lưu, phổ biến trong giới Thiên chúa giáo mà còn phổ biến tới cả một giới Phật giáo và tới một số nơi khác nữa". Ông Nguyễn Văn Chì thông báo cho mọi người biết rằng hai bản văn của Đc Điền đã được phổ biến rộng rãi. Nhưng vì hình như còn nể một ông Tổng giám mục dù sao cũng được chính quyền coi là cởi mở, ông viết tiếp : "Chúng tôi chưa rõ hai bản văn này có phải đúng là của ông Tổng giám mục địa phận Huế ghi hay không ? Sự ghi chú đó có phản ảnh trung thành lời phát biểu của ông Tổng giám mục địa phận Huế hay không ? Và chúng tôi cũng chưa biết rõ việc phổ biến hai bản văn đó là có ý kiến của ông Nguyễn Kim Điền hay không ? Ai là người chịu trách nhiệm phổ biến ?". Một loạt câu hỏi vừa để chạy tội cho Đc Điền (nếu biết sám hối !), vừa đe doạ ‘người chịu trách nhiệm phổ biến’. Vì, theo ông Chủ tịch UB MTTQ Tp HCM, những ý kiến trao đổi trong hội nghị, dù đúng đắn cũng không nên đơn phương phổ biến, huống chi những ‘ý kiến sai lầm’ mà phổ biến ra ngoài ‘sẽ gây tác hại có khi rất to lớn’.
    Đe doạ xong, ông phân tách và phản bác hai luận điểm chính của Đc Điền : 1) Không có tự do tôn giáo thực sự và 2) vì thế mà có những vụ như Vinh Sơn hay Phật giáo Ấn Quang.
    Về điểm 1) ông Nguyễn Văn Chì khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng trước sau như một của Đảng. Không có mâu thuẫn giữa văn bản và thực hành. Tuy nhiên ông công nhận còn có những thiếu sót cần khắc phục. Những thiếu sót này một phần đến từ phía “một số cán bộ cách mạng do trình độ còn non kém hoặc do chưa hết thành kiến mà làm sai đường lối chính sách”, nhưng cũng đến từ “hố sâu ngăn cách, chia rẽ, thành kiến lương giáo do bọn đế quốc và tay sai tạo ra hơn 100 năm nay”. Hơn nữa, hiện nay, bọn đế quốc “vẫn tiếp tục lợi dụng khai thác những thành kiến vốn dĩ do chúng tạo ra đó để kích động  những hành động chống phá cách mạng trong các tôn giáo ; đặc biệt trong Thiên Chúa giáo”. Cho nên, đồng bào công giáo hiện nay cần phải có sự cố gắng và nỗ lực vượt bực, vượt lên mọi trở ngại để phối hợp hành động cùng với chính quyền cách mạng và tất cả những người có thiện chí, kiên quyết đấu tranh cưỡng lại bọn phản động trong thiên Chúa giáo (…) Có thể nói đó là cuộc đấu tranh khẩn trương, gay go quyết liệt, bền bỉ trong lòng dân tộc, trong nội bộ Thiên Chúa giáo và ngay trong từng con người của mình, giữa chánh nghĩa và phi nghĩa”. Dĩ nhiên, chánh nghĩa trong lòng dân tộc là chánh nghĩa của chế độ. Vì vậy ông Nguyễn Văn Chì cũng chẳng ngần ngại nhìn nhận có công dân hạng hai : “Có thể nói thẳng, không cần gì phải giấu giếm là quả có sự phân biệt đối xử và cần có sự phân biệt đối xử với một số người không chịu cải tà quy chính”. Mà cải tà quy chính trong ngôn ngữ của chế độ phải hiểu là trở về với dân tộc ; và trở về với dân tộc phải hiểu là trở về với Cách mạng, với Đảng.
    Về điểm 2) ông Chì còn gay gắt hơn nhiều. Ông rất “tin tưởng đồng bào có đạo, cũng như các hàng giáo phẩm chân chính”. Nói cách khác, ông chỉ tin tưởng đồng bào có đạo và các hàng giáo phẩm trong chừng mực họ chân chính theo những tiêu chuẩn của chế độ. Đối với ông, càng theo Đảng, càng chân chính ; tôn giáo chân chính khi tôn giáo phuc tùng Đảng ; giáo phẩm chân chính khi giáo phẩm quỵ luỵ, luồn cúi Đảng. Đc Điền nói : “Theo thiển ý của tôi, nếu còn tựa vào tôn giáo để xách động này khác là vì chưa có tự do tín ngưỡng đó thôi”. Ông Chì không hiểu nổi điều đó, vì đối với ông, Đảng trước sau như một bảo vệ tự do tín ngưỡng cho những ai theo gót Đảng. Ông cho rằng luận điểm của Đc Điền chỉ “lập lại luận điệu của bọn đế quốc Pháp và Mỹ” : nhân danh tự do tín ngưỡng “để cho phép mình làm hoặc bênh vực cho những hành động bỉ ổi xấu xa nhất, phi đạo nhất (…) Những người làm như thế, bênh vực như thế không những làm mất phẩm giá của mình, mà còn làm mất phẩm giá của đồng đạo, của đạo lý mà chính tác giả hai bản văn đang tín ngưỡng. Làm như thế, là nhân danh tự do tín ngưỡng để khuyến khích mọi hành động phản cách mạng, mọi hành động xấu xa phi đạo đức”. Phản cách mạng là xấu xa, phi đạo đức. Thiện là Cách mạng, Ác là chống lại Cách mạng. Tgm Huế Nguyễn Kim Điền, theo những lời cáo buộc của ông Nguyễn Văn Chì, đã đánh mất phẩm giá của mình. Tệ hơn nữa, đã làm mất phẩm giá của đồng đạo (vẫn cái lối ‘tội’ cá nhân, trách nhiệm tập thể !) và của đạo Công giáo !
    Gần ba mươi năm sau, đọc lại những lời kết án này, thật khó hình dung nổi thái độ u mê, trâng tráo và cường bạo của Đảng cộng sản Việt Nam hồi đó.
    Qua cách lên án Đc Điền, chính quyền cộng sản đe doạ mọi tôn giáo, đặc biệt hàng giáo phẩm công giáo. Dĩ nhiên, Đc Điền không thay đổi thái độ. Giữa Nhà nước CHXHCNVN và Thiên Chúa, đương nhiên Đức cha chọn Thiên Chúa và trước những đòi hỏi phản tự do, phản nhân quyền, phản  đạo lý của Đảng CSVN, Đức cha chỉ có thể trả lời : Non possumus. Chúng tôi không thể. Và sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả. Trong lá thư gửi cho linh mục, tu sĩ và giáo dân ngày 19-10-85, Đức cha viết : “Năm 1971, tại Thượng Hội đồng giám mục Thế giới, tôi có phát biểu : “Đã có những giám mục chịu chết vì bênh vực quyền lợi của Hội Thánh, nhưng ngày nay có giám mục nào dám chịu chết để bênh vưc quyền lợi của con người không ?” Hạnh phúc thay ! Hôm nay chính tôi được Chúa gọi để chịu tù ngục, chịu chết vì bênh vực nhân quyền, công lý và công bình”
    Người ta đã bắt Tgm Huế đi làm viêc, đã chặt chân chặt tay của ngài. Những người công tác gần gũi của ngài bị thẩm vấn, bắt bớ, giam cầm như lm Nguyễn Văn Lý, lm Trần Văn Quý, nữ tu Trương Thị Lý…
    Cuối cùng, Đc Nguyễn Kim Điền đã chết một cách khả nghi tại bênh viện Chợ Rẫy ngày 8.6.1988.

    Đỗ Mạnh Tri.
    Paris 29.04.2005.
 

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Tư liệu: Extended Interview- Scholar Lien-Hang T. Nguyen: Hanoi’s Secrets


Nguồn:  http://www.historynet.com/interview-lien-hang-t-nguyen-and-hanois-secrets.htm

By Vietnam magazine
2/25/2013 • Vietnam First Person, Vietnam War

Amid the tumult of Saigon falling on April 30, 1975, Tran Thi Lien clung to her infant daughter as her husband, Nguyen Thanh Quang, desperately navigated his family, including nine children, out of a country that in a matter of hours would no longer exist. While their youngest child Lien-Hang T. Nguyen was too young to recall her harrowing experience as the Vietnam War ground to an ignoble end, her in-depth insights into that war’s final chapter is turning much of what is known about the war on its head. Through her perseverance and extraordinary access to Vietnamese archives, the former refugee, a Yale scholar and historian, crafted the groundbreaking Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam, which challenges many long-held assumptions about North Vietnam’s leadership and military and diplomatic strategies. Now an associate professor of history at the University of Kentucky, Nguyen recently spoke with Vietnam magazine about her life and her work.

When did you first come to know of your family’s escape from Vietnam?
I have no recollections myself of course, as I was about five months old in April 1975. My earliest memories are of when we resettled in Pennsylvania. I remember helping my mother sew Republic of Vietnam flags to give to those attending a reunion at Fort Indiantown Gap for refugees who were there in 1975. I think that was the first time I learned my family had been in a refugee camp.

As you grew up, did you learn much about the war?
My parents didn’t share much of that experience with me as a child. I think they were reluctant because it was too painful for them. They were much more focused on our future in the United States, and they just generally don’t like to talk about their personal past. My dad and uncles and cousins on my father’s side, on the other hand, used to like to talk among themselves about the war.

When did you begin to learn about your harrowing experience in 1975?
The first time I heard about what actually happened to my family was when my parents were forced to tell me about it for a high school homework assignment—and that was only because they wanted me to get a good grade. Even then, though, they just answered questions, and really didn’t share the whole story. It wasn’t until we revisted the story, this time for a paper I wrote in college, that I learned details about my family’s journey to the United States. I interviewed several family members, including my uncle who got us passage aboard a boat on the Saigon River to escape. I also wrote about those in my family who left the North in 1954. That paper was for my very first course on the Vietnam War at the University of Pennsylvania. It was in 1991 and Dr. Walter McDougal, who is a Vietnam veteran, had just started talking about his own war experiences in Vietnam and it prompted him to offer a seminar on the war. He had taught all different aspects of U.S. foreign policy, but had stayed away from the Vietnam War. Then, the first time I went to Vietnam in 1994, I was able to talk to aunts and uncles who weren’t able to make it over to the United States, and more stories were coming out.

And even more recently you’ve learned more about your personal story?
When preparing to talk at the National Book Festival this past summer, I again discussed leaving Vietnam with my parents and they were saying, “No, we remember things differently.” When I first interviewed my uncle, it was 20 years from when we left. When I interviewed my parents, it was 38 years out, so they had different memories of some of the details. It definitely took a while for everyone to be able to just talk about what happened. I still I can’t believe we were able to make it to the United States, based on everything I’ve garnered from family members.

Was your family all on the Southern side?
My father’s side of the family was originally from near Hanoi and they all left in 1954. My father and uncles were in the armed forces. On my mother’s side, there were people who joined the revolution, but the majority didn’t. The nomitive narrative that I grew up with was from the Republic of Vietnam side, not so much the Communist side.

So was it at the University of Pennsylvania that you decided to become a historian and specialize in Vietnam?
No, I was initially focused on the American Civil War and I worked with the historian Drew Gilpin Faust, now the president of Harvard, while an undergrad at Penn. The Civil War was my first love in terms of military history. That’s what I wanted to pursue when I applied to graduate school. But then I ended up working with John Lewis Gaddis at Yale, who was focusing on the Cold War era. He was accepting students who had area studies expertise and requisite languages to be able to do research in Communist or former Communist countries. So it wasn’t until my Cold War studies that I began focusing on Vietnam.

What were you most interested in as a historian?
The 1968 to 1973 period really interested me because I was trained in diplomatic history and wanted to focus on the peace negotiations in Paris. One of the big questions of the day was the extent of the Chinese and Soviet roles in the war and whether they had pressured North Vietnam to settle. At that time, since all the Vietnam archives were closed to outsiders, and Beijing and Moscow were not very forthcoming, finding those answers would be like finding the Holy Grail.

Your work, however, reaches back into the 1950s.
I soon realized I couldn’t just jump into the story in 1968, I had to explain a lot of what took place before that. So that was how Hanoi’s War came about.
"What was surprising was how Le Duan was able to so dominate the decision making in Hanoi"

You are challenging some basic understandings of the North Vietnamese leadership. How surprised were you?
I went in with an open mind. Now, I was not thinking that Ho Chi Minh had not been in charge, but I knew the reality was much more complex, so it wasn’t that surprising to learn that Le Duan had more control than was previously understood. What was unexpected was how he was able to so dominate the decision making, and the extent of the police state he created. He used the party apparatchiks to pretty much control all levers of decision making in Hanoi and formed an alliance with the minister of security to firmly clamp down on any antiwar dissent. I had thought, prior to my research, perhaps there was some form of collective leadership and decision making and, even if there was a first among equals, it wouldn’t be so similar to other systems I had studied as a historian, where one person was able to control everything.


You also say failures in socialist construction played a significant role in North Vietnam. To what extent did domestic issues impact North Vietnam’s war policy?
The question of why Hanoi gave a green light to war has long intrigued scholars, and there hadn’t been a really satisfying answer, except that of course the revolution was on the right side of history and that the war was inevitable. But when we look closer at what was going on within North Vietnam, we see there were many domestic problems, just as in the South. The difference was, we knew all about those problems in the South, They were very apparent because the international media was more focused, and able to focus, on the problem of nation building in the South. But the situation in the North was always a big question mark. At the time, there was a general awareness of the land reform failures, but not much was made of it. What has been gleaned out of some of the eastern European archives was the extent of the problems with the North Vietnam state planning. So, piecing these factors together, it makes sense to me why Le Duan was recalled from the South in 1957 to take over the Politburo. Revolutionary war was an effective means to deflect attention from domestic problems. This is one of my arguments that has really angered some people.


Who is angry with your notions?
In terms of this argument, many inside Vietnam and many who were aligned more with the antiwar movement in the West are offended because it portrays the North’s motivations as less heroic.


And your portrayal of Ho and General Bo Nguyen Giap as moderates has also drawn heat.
They were the moderates. This is the reason I think I get the “She must be a Communist” treatment from many in the Vietnam diaspora community—because in certain ways Ho and Giap come out as the heroes in the story. They would have, I think, probably exerted a moderating influence on how the war would have been waged. But they weren’t listened to as Le Duan advanced full-scale war at the expense of the North socialist revolution. I think I pretty much angered all sides with the book, which is a good thing.


How was it that Le Duan came to determined the war strategy?
From my understanding, what Le Duan wanted to do was win the war quickly through exerting the strategy of the General Offensive/General Uprising. He came up with that strategy in his reading of recent Vietnam history that included the 1945 August Revolution, or General Uprising, and the 1954 siege of Dien Bien Phu. He did not believe the North could win by strictly adhering to Mao Zedong’s three phases of people’s war. He thought they could bypass that by doing these large-scale attacks against cities and towns in South Vietnam, which would spur an uprising that would have the power to topple the Saigon machine. Ho and Giap were never quite ready to attack the cities, as they believed it would put their strength in the countryside at risk. They were always sort of hedging their bets, you can argue, in terms of how effective their military offensives were going to be. They were more realistic and they pretty much foresaw what would happen in 1964 and 1968.


Was Le Duan a true believer or was he misled by bad intelligence?
Le Duan saw what happened to Giap after focusing on the cities and towns in the August Revolution, and the power of the masses that were unleashed to defeat the French at Dien Bien Phu. He believed he could really harness that power in the cities and towns of the South and live on as this heroic leader who had the foresight to combine these tactics, which Ho and Giap regarded as huge gambles in which they could really lose big. In terms of intelligence, I would say that in the reading of the materials that have been coming out from Hanoi, he kind of ignored it. In 1968 he ignored all of the dissenting voices in the military and those who said the General Uprising was not going to work. He did try, in 1972, to learn from some of the mistakes and lessons of 1968.


Did Le Duan understand what was playing out during Tet ’68?
Le Duan had sent his right hand man Le Duc Tho to the south, so when the attacks began in January and February, he did have his eyes and ears on the ground, and the sources are very revealing about what was being relayed in real time. But Le Duan was convinced that it would work even though the chance of success grew dimmer and dimmer with each wave. I’m not quite sure why he didn’t stop. But, until more sources are revealed that could answer these questions, if they do exist, I fall back on human nature. We see military and political leaders make mistakes, yet stay the course, often a result of hubris or their blindness to the realities because they stake their reputation on a certain policy or strategy and have to see it go to the end. That’s what I argue was the case with Le Duan, the same way we can describe President Lyndon Johnson’s decision to pursue war because he saw his personal credibility and his nation’s credibility on the line. In Le Duan’s case, he also saw that the revolution was on the line.


You’ve also documented significant antiwar sentiment among the Communists, North and South.
We long suspected that there was antiwar sentiment among the masses, north and south of the 17th parallel. I found that there was a lot of resistance to Party Central’s control of the situation. In the North and South, many wanted the war to end, and in the South they wanted to wage the war as they saw fit. They constantly had to deal with Hanoi’s demands. Although I only had a handful of one-on-one interviews, I was able to participate in a closed conference on the National Liberation Front. But I couldn’t cite any of those former NLF members and their stories of how they tried to resist orders from Hanoi. But some of those assertions have since been confirmed through other sources and documents and books coming out of Ho Chi Minh City. They are now coming forth and admitting that they didn’t like certain directives.


How was it that the West was unaware of Le Duan’s hold on power?
The Vietnamese, probably even more so than the Chinese, were really able to keep things under wraps from foreign observers. Now, you can read in the documents that at the time there were some Vietnam experts who did think that Ho Chi Minh wasn’t all powerful and that others were really in charge of the Politburo. Some even thought it was Le Duan. But information was so sporadic and sketchy, and the situation was very uncertain. But it wasn’t making a difference as I don’t think it really mattered to Johnson or Nixon, and their advisers. Within Vietnam, of course Le Duan was well known, but not really until 1970, I argue, does he really go all out. Before that he was just considered one among many important leaders among the Politburo. I argue that he knew he wasn’t very charismatic and that it was more effective to allow more charismatic leaders, like Ho and Giap, to stand forward, while he controlled things behind the scenes. The Politburo had chosen to create this cult of personality around Ho Chi Minh, and to good effect as Ho really was good at rallying the people.


And that image of Ho remains strong today?
There hasn’t been really that much of an effort to dismantle Ho’s image, although stories are coming out that Ho was under attack from rivals and that he really didn’t wield real power, but that is not something the Party is promoting. It still maintains that Ho Chi Minh was the leader, and the party leadership was, and is, guided by his teachings. The war legacy is very important for the legitimacy and credibility of the Party today, because that was Hanoi’s greatest victory.


How important was the byzantine Hanoi-Moscow-Beijing relationship to the course of the war?
This is the Holy Grail. The conventional wisdom was that Vietnam was able to balance China and the Soviet Union during the war. But I found it was much more complicated. They did exert a lot of pressure and forced North Vietnam to do a lot that they would not have done if not for these bickering allies. It was a very important to grasp the extent this ideological rift impacted the war and revolution to understand the war.


How effective was Nixon’s “triangular offensive” in exploiting the Sino-Soviet-Vietnam entanglement?
I think the Nixon strategy actually worked. Most argue that Nixon’s triangular offensive failed, but I argue that it worked because the Soviets and Chinese exerted pressure on North Vietnam and North Vietnam yielded to that pressure. At the same time North Vietnam was able to maneuver to be protected from the full effect of what could have happened. By 1972 they were able to sort of shield themselves from the big-power machinations.


Could there have been peace earlier?
No. Neither Nixon nor Le Duan intended to reach peace earlier. Now, perhaps if Hubert Humphrey had won election in 1968, or Le Duan was no longer general secretary after 1968, and then only if Nguyen Van Thieu were no longer president of South Vietnam, as he exerted a lot of pressure on the United States to not negotiate and compromise in Paris.


You say there were no clear winners in the war, but what about North Vietnam?
Yes, North Vietnam won, but it was not black and white. The North Vietnamese people in the end lost, even those who joined the Party and those who were in the North Vietnamese Army. They sacrificed so much in a war that, if different leaders had been in charge, could have ended sooner. Le Duan was the victor but at what cost?


How is it a young Vietnamese American woman gained access to records so long denied to others?
I was in the right place at right time. When I first began going to Vietnam, there was a stigma attached to Vietnamese Americans or Vietnamese who left. We were viewed as traitors. So everything was much more difficult for us than even for foreign visitors. But there were policy changes in the late 1990s as Vietnam started trying to entice Vietnamese to come home or invest in the country. Things were changing rapidly, and I think I benefited from it when I began my research there in 1998. But I remember they were still telling me, “You need to be someone famous for us to let you in the archives.” And I would say, “But I can’t write a book and be anyone famous without getting into the archives.” It was a sort of chicken and egg thing. And when I interviewed folks at Vietnam’s Military Institute, I don’t think they took me too seriously. Why would a young Vietnamese American girl be interested in this and what can she do with what she finds anyway?


Did that attitude surprise you?
It’s understandable if you consider most scholars in Vietnam are typically old men. But I probably did benefit in that people were likely more willing to talk to me because I was a young Vietnamese American woman. I do think that helped in getting stories from former southern revolutionaries.


Should we expect more of the archives in Vietnam to open up?
I want to say yes, but there have been some steps in the opposite direction. They haven’t allowed as many researchers in certain archives and they continue to restrict access to certain files. It is still complicated. There has been a very good two-volume work by a journalist who had access to high-level party members on the period right after 1975 leading up to the Third Indochina War. The fact that he could publish is an important opening. But the problem is the archives. It’s all about opening them so anyone can gain access—not just a famous journalist. But I’m not sure when that will happen.


In your research effort, what was your biggest disappointment?
That I didn’t hear more voices from below. I wish I’d had better access to the sort of materials that related to what the people thought and felt during the war, like when the folks in Hanoi were forced to flee the bombing and move out to the countryside. I also wish I had learned more about those who were arrested or who were under survellience for opposing the war. All the material I gathered about them came from the perspective of those who arrested them.


How has your book been received in Vietnam?
I really have no idea. I sent some copies to friends at the Military History Institute and and in the diplomatic academy but I haven’t heard from them. I haven’t tried to go to Vietnam since the book was released.


What is the most intriguing question you would have liked to have gotten an answer to but couldn’t?
It would be something about Giap, like how much did he hate Le Duan. I tried to interview him in 2003 and was denied. But I think I’d like to ask Giap what he was thinking and feeling in 1967, when his closest friends and deputies were being arrested. Could he have saved them? What were his feelings as he watched, unable to protect them or the war effort itself.


Is there more to come from you about Vietnam?
I would really like to write a complete history of the war next, and this time pay more attention to Saigon.