Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

TS Phạm Duy Nghĩa: “Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

TS Phạm Duy Nghĩa: “Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

Tư Giang lược ghi
Thứ Bảy,  27/6/2015, 08:25 (GMT+7)
Phóng to 

Thu nhỏ 

Add to Favorites 

In bài 

Gửi cho bạn bè
TS Phạm Duy Nghĩa. Ảnh TL.
(TBKTSG Online) - Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã có bài thảo luận về quyền sở hữu tại một hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức vào ngày 25-6. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lược ghi.
Điều gì đã cản trở Việt Nam trong 20 năm vừa rồi không thể phát triển? Thực ra, trong 30 năm vừa rồi, mình cải cách nửa chừng, giúp đất nước phát triển, nhưng cũng làm đất nước vướng nhiều cái do mình làm không đến nơi đến chốn….
Nền kinh tế tư nhân chia thành hai loại. Một loại giàu lên rất nhanh. Ngay như điểm tin sáng nay cũng thấy, có đại gia ôm hàng trăm tỉ tiền mặt vào Phú Quốc mua đất. Sự giàu có của một bộ phận tư nhân gắn bó với sân sau, với những người có quyền phân chia đất. Như vậy, có một bộ phận tư nhân phát triển rất tốt, tốt một cách không tin được. Nhưng có một bộ phận tư nhân khác, tức hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân chết mà không chết được, teo tóp đi.
Tức là loại nào mà bám vào chính quyền, quan hệ tốt, trở thành sân sau thì phát triển rất tốt, còn loại không có được những quan hệ đó rất khó. 
Còn về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì bao nhiêu năm nay vẫn không có gì mới. Chúng ta đã nói từ mấy chục năm nay rồi. Sở hữu không rõ, thành ra nhiều anh khai thác quyền của mình để kiếm được lợi tư từ khối DNNN.
Vì vậy, DNNN thích hợp với những ai nắm quyền quản trị, và can thiệp được vào khối tài sản này. Cũng có những DNNN thành công như Vinamilk, Viettel… Nhưng còn các DNNN khác thì cũng có nhiều khó khăn lắm. Những khó khăn này dẫn đến thoái vốn, bán tống bán tháo tài sản nhà nước đi. Rồi dưới chiêu bài xã hội hóa, công tư hợp doanh để phân phối tài sản công cho tư nhân cũng khá nguy hiểm.
Khu vực thứ 3 là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thì lại đang phát triển tốt, ngày càng tăng trưởng. Lập luận của chúng tôi là, hóa ra khu vực này nó không dùng luật Việt Nam mình. Tài lực, vật lực nó mang từ bên ngoài vào, thuê đất, nhân công của mình, lắp ráp ở mình rồi bán đi. Tài sản của họ ở mình thì có nhiều đâu. Nếu có tranh chấp thì họ có nhờ tòa mình xử đâu, họ mang ra nước ngoài.
Như vậy, thể chế của Việt Nam mình chỉ làm khổ dân mình thôi, chứ không làm khổ khu vực nước ngoài nhiều lắm. Chính vì vậy, họ vay mượn từ bên ngoài, họ vượt qua được thể chế của mình. Đó là lý do giải thích vì sao khu vực FDI có thể đóng góp vào xuất khẩu lớn với lý do không vướng vào những phiền nhiễu của chế độ sở hữu trong nước.
Bây giờ cải cách thế nào? Nếu mà đất nước nói rõ cái gì của ai thì đã khác. Chỉ đơn giản thế thôi chứ có gì đâu mà phải nghĩ ngợi cho nhiều. Chẳng hạn như lô đất này của VCCI, thì chủ của nó là VCCI. VCCI không thích thì bán, hay cho thuê. Như vậy sẽ rõ chủ sở hữu của mảnh đất là ai…
Hơn 10 năm trước, chúng tôi từng nói một ý rằng: sở hữu toàn dân là cái ý chí chính trị, nhưng khái niệm ấy không dùng được, không có ý nghĩa về pháp lý. Nó phải có chủ thể rõ ràng. Lấy ví dụ, Hà Nội hay TP.HCM là một pháp nhân. Là pháp nhân thì họ có đất, cây… khi cây đổ vào ô tô của tôi thì tôi có thể kiện chính quyền. Sở hữu toàn dân như là một vòng kim cô. Việt Nam mình phải làm như Trung Quốc năm 2007 khi ban hành luật về vật quyền.
Sở hữu toàn dân rất có lợi cho những người biến ao ruộng, miếng đất đáng giá thành bao nhiêu cây vàng. Cái lợi ấy chạy hết vào túi của những người đó, nhà nước chẳng thu được đồng thuế nào, vì phần lớn sẽ nằm trong tay những người có quyền quyết định đối với những lô đất đó. Vì thuộc về toàn dân, thuộc quyền nhà nước nên xảy ra nhũng nhiễu, hạnh họe người ta. Nếu sở hữu rõ ràng thì phải thương lượng. Vì không rõ sở hữu nên nay anh thu hồi, mai anh chuyển đổi. Những người đó giàu lên rất dữ nhưng nó làm cho doanh nghiệp không dám đầu tư lớn. Thể chế sở hữu không chắc chắn thì không ai dám đầu tư.
Rất nhiều đại gia Việt Nam bây giờ đang bán tài sản cho nước ngoài. Đây cũng là điều cảnh báo cho những nhà làm chính trị tại Việt Nam. Khi những đại gia này làm ăn đến mức nào đó … người ta bán đi.
Ngoài ra còn có những loại sở hữu thông qua hợp đồng. Chẳng hạn có người sở hữu biệt thự ở Vũng Tàu, cho thuê 2 tuần/lần. Người ta sẽ sáng tạo ra đủ thứ sở hữu. Đáng ra luật pháp phải đảm bảo sự tự do đó, và dùng hệ thống tòa án bảo vệ những điều đó.
Thứ 3, giả sử một người làm ăn tồi, vỡ nợ, thì tài sản đó phải nhanh chóng chuyển sang tay chủ nợ. Chẳng hạn một ngày đẹp trời, OceanBank, Ngân hàng Xây dựng sẽ chuyển sang cho anh khác. Nên luật phá sản là cái roi rất dữ đe nẹt những anh làm ăn dở. Nhưng mình chưa bảo vệ được những chủ nợ.
Nhưng vấn đề sở hữu ở đất nước mình chưa ai dám thảo luận rộng, sâu.
Giới nhà giàu có được quyền lợi từ cái đó cũng không muốn đổi, còn những thành phần khác muốn đổi thì tiếng nói không mạnh.
Bây giờ, nhà nước muốn lấy đất đai của dân thì khó hơn một chút, giá thì do nhà nước đề ra, dân mất đất thì có thể khiếu nại, tố cáo… Thế thì vòng vo tam quốc nhưng mình có chữa được luật đâu. Hôm nay mình nói mạnh hơn để cố gắng 20 năm sau con cháu mình nó có cái nhà của nó là của nó, không phải của nhà nước. Nhà nước muốn lấy, thu hồi thì phải thương lượng, mua với giá đàng hoàng, chứ không thể thu hồi không.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Tư liệu: EAP Economic Update Tháng 4/2015

Tư liệu: Việt Nam chính thức bị Lào, Campuchia vượt mặt (Một thế giới 9/5/2015)

Nguồn: http://motthegioi.vn/kinh-te/tin-trong-nuoc-va-quoc-te/viet-nam-chinh-thuc-bi-lao-campuchia-vuot-mat-186572.html
------------

Việt Nam chính thức bị Lào, Campuchia vượt mặt

Đăng Bởi -
Viet Nam bi Lao, Campuchia vuot mat

Có lẽ, nhận định Việt Nam bị Lào, Campuchia vượt qua không còn là dự báo mà đã dần thành hiện thực. Số liệu thống kê của WB và WEF cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đã bị 2 nước láng giềng vượt lên về năng lực cạnh tranh, trình độ sản xuất...

Theo các chỉ số thống kê xếp hạng của Ngân hàng Thế giới – World Bank và Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF cho thấy, Việt Nam và các doanh nghiệp Việt đang đối mặt với nguy cơ bị Lào và Campuchia vượt qua về cả năng lực cạnh tranh, khả năng vươn lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị, và trình độ sản xuất. 
 
Trước thềm hội nhập, Việt Nam đang gặp phải những vấn đề rất đáng lo ngại như đầu tư đào tạo nhân viên yếu; khả năng ứng dụng công nghệ mới và hấp thu công nghệ yếu; trình độ marketing  đều bị xếp sau Lào và Campuchia, chỉ hơn mỗi Myanmar.
 
Trong khi đó, Lào và Campuchia đang có những bước cải thiện mạnh mẽ trong mấy năm qua và hơn hẳn Việt Nam về sự năng động của doanh nghiệp, theo các thống kê mới nhất của Ngân hàng Thế giới cũng như Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Những điều này có thể là dấu hiệu cảnh báo doanh nghiệp trong nước sẽ bị “đuối” và khó thoát ra khỏi vị thế mãi gia công, xuất khẩu thô chiếm tỷ trọng cao khi hội nhập.

Nếu xét về chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam đang được xếp trên 3 nước là Lào, Campuchia và Myanmar – nhóm có đóng góp khoảng 4% GDP toàn khối. Trong khi đó, nhóm có năng lực cạnh tranh cao hơn Việt Nam đang chiếm đến 88% GDP toàn khối.
 
Tuy nhiên, Việt Nam đang là quốc gia có chi phí thời gian chờ và nộp thuế cao nhất trong khu vực. Báo cáo của World Bank cho thấy, trong nhiều năm liền số giờ trung bình cho một doanh nghiệp nộp hồ sơ thuế và đóng được thuế là 872 giờ, gấp hơn 10 lần so với Singapore, gấp 2,5 lần so với Lào và hơn 5 lần so với Campuchia. 
 
Xét về mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, hiện trình độ sản xuất của Việt Nam được WEF xếp sau cả Lào và Campuchia, chỉ cao hơn Myanmar.
 
Báo cáo cho thấy, doanh nghiệp ở Lào có năng lực đổi mới và sáng tạo; độ chuyên sâu cao hơn  doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, trình độ marketing của các doanh nghiệp ở Lào và Campuchia được WEF đánh giá cao hơn cả Việt Nam. 
 
Điểm quan trọng trong năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là đào tạo nhân viên và thu hút nhân tài, hiện Việt Nam vẫn bị xếp sau cả Lào và Campuchia.
 
Còn khoảng hơn 6 tháng nữa, Cộng đồng Kinh tế ASEAN – AEC sẽ có hiệu lực. 10 nước ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng kinh tế tự do với quy mô 2.400 tỷ USD (năm 2013) với 600 triệu người dân.
 
Giữa các nước thành viên trong cộng đồng AEC sẽ là dòng chảy hoàn toàn tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có kỹ năng (bước đầu với 8 nhóm ngành: bác sĩ, nha sĩ, y tá, kỹ sư, kiến trúc sư, kế toán, giám định và du lịch). 
 
Theo những chỉ số đưa ra, tương lai các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn lên không là một câu hỏi rất khó trả lời. Bởi, dù cho Việt Nam đang thu hút dòng vốn FDI từ các nơi đổ về thì các doanh nghiệp trong nước được gì từ những ưu đãi Chính phủ đã dành cho các doanh nghiệp FDI? 


Mặc khác, Việt Nam được xếp vào nhóm phát triển dựa vào thiên nhiên ban phát. Điều này một lần nữa khẳng định qua chỉ số chuyển giao công nghệ với FDI. So với cả Lào và Campuchia, FDI vào Việt Nam nhắm vào lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên.


Theo đó, WEF đánh giá chỉ tiêu chuyển giao công nghệ với FDI trong khối ASEAN của Việt Nam chỉ đứng trên Myanmar, lại một lần nữa được xếp thấp hơn Lào, Campuchia. 

Tổng hợp theo Bizlive

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Tư liệu: Giới thiệu sách China and the Vietnam Wars 1950-1975 (UNC Press)

http://www.uncpress.unc.edu/browse/book_detail?title_id=837





Foreword by John Lewis Gaddis


In the quarter century after the founding of the People's Republic of China in 1949, Beijing assisted Vietnam in its struggle against two formidable foes, France and the United States. Indeed, the rise and fall of this alliance is one of the most crucial developments in the history of the Cold War in Asia. Drawing on newly released Chinese archival sources, memoirs and diaries, and documentary collections, Qiang Zhai offers the first comprehensive exploration of Beijing's Indochina policy and the historical, domestic, and international contexts within which it developed.
In examining China's conduct toward Vietnam, Zhai provides important insights into Mao Zedong's foreign policy and the ideological and geopolitical motives behind it. Throughout the 1950s and 1960s, he shows, Mao considered the United States the primary threat to the security of the recent Communist victory in China and therefore saw support for Ho Chi Minh as a good way to weaken American influence in Southeast Asia. In the late 1960s and 1970s, however, when Mao perceived a greater threat from the Soviet Union, he began to adjust his policies and encourage the North Vietnamese to accept a peace agreement with the United States.

About the Author


Qiang Zhai is professor of history at Auburn University Montgomery in Alabama.


Reviews

"The key role of Mao's China in arming and guiding the thirty-year struggle has only now been clarified by the researches of Qiang Zhai. . . . Zhai makes . . . many illuminating disclosures." --London Review of Books


"[A] thorough and detailed study. . . . Zhai skillfully illustrates how a nation’s self-interest is at the heart of its foreign policy." --Choice


"As groundbreaking as it is clear. Scholars who seek a model on how to state, construct, and support an argument can do little better than this." --Intelligence and National Security


"An engaging account of the thoughts and actions of the decision makers on both sides of the Sino-Vietnamese connection, the book constitutes a fresh and important contribution to the historiography during a crucial period of China's foreign policy." --American Journal of Chinese Studies


"Deploying an impressive array of Chinese archival, memoir, and secondary sources, Qiang Zhai's outstanding study details the roles and illuminates the motives of China's involvement in the first and second Indochina wars between 1950 and 1975. . . . Fair-minded, clearly written, and deeply researched, Zhai's study supersedes all previous works on the subject and merits a broad readership by students of cold war international relations." --Journal of Military History


"A must for those working within the field of Cold War history." --Journal of Peace Research
---------
http://www.truyen-thong.org/so32/366.pdf

Tư liệu: Phỏng vấn ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẩn (ANTĐ 24/4/2015)



Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn

15:36 23/04/2015

Chưa bao giờ, trong những cuộc trò chuyện, tôi hỏi Tiến sĩ (TS) Lê Kiên Thành những câu hỏi thẳng thắn, sòng phẳng, thậm chí đôi khi có thể khá khó chịu về cha ông - cố Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn như trong buổi trò chuyện này. Và ông đã đáp lại bằng sự thẳng thắn thậm chí còn vượt cả sự chờ đợi của tôi.